Chỉ còn chưa đầy một tuần nữa, cộng đồng các nước nói tiếng Anh (Mỹ – Anh – Ai Len – Úc….) sẽ đón chờ một ngày lễ vô cùng thú vị trong năm: Halloween (31/10). Nếu như người Việt có Rằm Trung thu là dịp truyền thống để trẻ em vui chơi, và Rằm tháng Bảy là dịp để tưởng nhớ tới những người đã khuất…….thì Halloween có thể coi như một lễ hội chung tương tự với thế giới phương Tây. Có lẽ còn nhiều điều hấp dẫn về ngày lễ này mà bạn vẫn chưa biết hết. English4ALL sẽ cùng bạn khám phá thêm về Halloween tại ga British Way ngày hôm nay nhé. All aboard!
1. Bạn có biết từ Halloween đến từ đâu không? Halloween chính là viết tắt (shortening) của cụm từ “All Hallows’s Evening” (Đêm các Thánh). Halloween còn có vài tên gọi khác như: All Hallows Eve, The Feast of the Dead, Samhain, All Saints Eve……
2. Halloween bắt nguồn từ một lễ hội Samhaim của người Celtic ở Ai Len (Ireland) có từ 2000 năm trước, để ăn mừng kết thúc một vụ mùa (harvest season). Truyền thống này lan truyền đến những vùng khác của thế giới sau khi người Ai Len (Irish) di cư (immigrated) đi khắp nơi vì nạn đói mất mùa khoai tây (tomato famine)
3. Những con dơi (bats) cũng đến từ lễ hội Samhain bởi vì người Ai Len thường đốt lửa (bonfires) để xua đuổi ma quỷ (evil spirits), điều này sẽ hấp dẫn rất nhiều côn trùng (insects) đến, và lũ dơi cũng kéo tới để kiếm ăn, dần dần chúng trở thành một trong những biểu tượng gắn liền với Halloween.
4. Người ta tin rằng ranh giới (boundaries) giữa thế giới của người sống và người chết sẽ trở nên mong manh nhất vào ngày 31 tháng 10, và người chết có thể trở lại trần gian. Chính vì thế để tránh bị nhận ra là người, người ta thường đeo mặt nạ (masks) và hoá trang (costumes)
5. Có một điều mê tín (superstition) rằng các hồn ma (ghost) sẽ cải trang (disguise) thành người và đi gõ cửa xin tiền và đồ ăn. Nếu bạn từ chối, bạn sẽ có thể trọc giận các linh hồn và bị ám.
6. Chính từ điều mê tín trên đã hình thành nên trò “Trick or Treat” (Cho kẹo hay bị ghẹo) của trẻ con trong ngày lễ Halloween. Bọn trẻ sẽ đến từng nhà trong những bộ trang phục hoá trang hô “Trick or Treat” để xin kẹo bánh, trái cây, nếu chủ nhà từ chối tiếp đón (treat) , chúng sẽ bày trò phá phách, chọc giận (trick) .
7. Màu truyền thống của ngày lễ Halloween là màu da cam (Orange) và màu đen (Black). Màu cam là biểu tượng gắn liền với mùa thu, trong khi màu đen lại là tương trưng cho cái chết, sự kết thúc của mùa hè, và bóng tối.
8.Tập tục khắc những quả bí ngô (pumpkins) thành hình những chiếc đèn Jack-o’-lantern bắt nguồn từ một câu chuyện dân gian của người Celtic. Một chàng nông dân hay say xỉn tên là Jack lúc còn sống thì keo kiệt, bủn xỉn, không bố thí cho ai một xu nào, lại hay trêu đùa (tricked) ma quỷ và cuối cùng bằng việc cả thiên đường (heaven) lẫn địa ngục (hell) đều không cho anh ta vào. Bị mắc kẹt ở chốn u minh (limbo), Jack đã làm một cái đèn lồng (lantern) từ một củ cải (turnip) và cho một ít than hồng vào trong để sưởi ấm và có ánh sáng tìm đường đi. Dần dần, người Celtic khắc những gương mặt sợ hãi vào chiếc đèn lồng Jack-o’-lantern đặt bên ngoài nhà trong dịp Halloween để xua đuổi linh hồn ma quỷ đi.
9. Jack-o’-lanterns nguyên gốc được làm bằng củ cải nhưng khi nạn đói vì mất mùa khoai tây 1846 đã buộc những gia đình người Ai Len phải tha phương cầu thực sang miền đất mới ở Bắc Mỹ thì củ cải được thay thế bằng quả bí ngô như ngày nay. 99% bí ngô được bán trong những ngày này chỉ dùng để làm đèn lồng.
10. Hình ảnh phù thuỷ (witch) cưỡi chỗi (broomstick) xuất phát từ thực tế là ngày xưa những bà lão mà bị buộc tội là phù thuỷ thường rất nghèo và không có tiền mua nổi ngựa, họ thường đi bộ và chống gậy, dần dần thế bằng hình ảnh cây chổi. Những con mèo đen, thực tế là những con mèo hoang hay đi lang thang theo những bà lão phù thuỷ, người ta coi chúng như những kẻ giúp việc cho phù thuỷ. Riêng ở Anh (England), gặp mèo trắng mới bị coi là xui, mèo đen lại là biểu tương may mắn.
Quốc ca luôn luôn là biểu trưng sống động bằng âm nhạc cho niềm tự hào của mỗi dân tộc. Nếu như vào mùa thu tháng Tám năm 1945, người Việt Nam lần đầu tiên được nghe giai điệu hào hùng, mạnh mẽ của “Tiến Quân Ca” của nhạc sỹ Văn Cao và sau này trở thành Quốc ca Việt Nam thì Vương Quốc lại tự hào sở hữu bài hát quốc ca cổ nhất thế giới “God Save The Queen”. Thậm chí một số quốc gia khác còn học theo giai điệu của bài hát này để làm quốc ca riêng cho mình. English4ALL Thứ Sáu với ga British Way xin giới thiệu một đôi nét về bài hát quốc ca nổi tiếng thế giới này của người Anh. All aboard!
https://www.youtube.com/watch?v=5C6ON9P6T9s
Lịch sử ra đời Quốc ca Vương Quốc Anh
Quốc ca của Vương Quốc Anh (British National Anthem) có từ thế kỉ 18. ‘God Save The King’ là một bài hát yêu nước (a patriotic song) được công diễn lần đầu tiên (first publicly performed) tại London vào năm 1745 sau này chính thức trở thành quốc ca vào đầu thế kỉ 19.
Tác giả của ca từ và giai điệu (tune) hoàn toàn ẩn danh (anonymous) và bắt nguồn từ thế kỉ 17.
Tháng 9 năm 1745, người thừa kế vương vị của Vương Quốc Anh (the British Throne), hoàng tử Charles Edward Stuart, đã đánh bại đội quân của Vua George II ở Prestonpans, gần thành phố Edinburgh ngày nay.
Một bầu không khí ái quốc sôi nổi sau tin tức từ trận Prestonpans đã truyền về London. Người đứng đầu dàn nhạc ở Nhà hát Hoàng gia (Theatre Royal), Drury Lane đã sắp xếp biểu diễn bài “God Save The King” sau một vở kịch (a play). Đó là một thành công vang dội và được lặp đi lặp lại hàng đêm .
Dần dần các nhà hát khác cũng học theo cách này, và truyền thống sử dụng bài hát này để chào mừng vua/nữ hoàng (monarchs) khi họ tới các điểm giải trí của công chúng cũng được hình thành.
Những ca từ ngày nay vẫn được sử dụng có từ năm 1745 chỉ thay từ King thành Queen (nữ hoàng) cho phù hợp. Trong những dịp chính thức, người ta thường chỉ hát khổ đầu tiên.
Lời bài hát Quốc ca Vương Quốc Anh như sau:
God save our gracious Queen!
Long live our noble Queen!
God save the Queen!
Send her victorious,
Happy and glorious,
Long to reign over us,
God save the Queen.
Thy choicest gifts in store
On her be pleased to pour,
Long may she reign.
May she defend our laws,
And ever give us cause,
To sing with heart and voice,
God save the Queen.
Giai điệu quốc ca Anh còn được sử dụng ở các nước khác. Các du khách châu Âu tới Anh vào thế kỉ 18 nhận thấy được lợi ích của việc có một bài hát chung cho quốc gia như một biểu tượng âm nhạc được ghi nhận (a recognised musical symbol). Tổng cộng, có tới 140 nhạc sĩ (composers) bao gồm các những tên tuổi tài danh như Beethoven, Haydn và Brahms đều đã sử dụng giai điệu này trong các sáng tác của họ.
Quốc ca Anh được hát vào những dịp nào?
(Bài hát God Save the Queen được hát trong lễ mừng sinh nhật lần thứ 85
của Nữ hoàng Anh Elizabeth tại Tu Viện Westminter)
Bài hát Quốc ca này được cử hành bất cứ khi nào nữ hoàng Anh hiện diện trước công chúng (make a public appearance) và được phát trên đài BBC( British Broadcasting Corporation) mỗi đêm trước khi kết thúc chương trình.
“God Save The Queen” cũng được hát vào cuối tất cả các nghi lễ trong ngày Tưởng Niệm (Remembrance Day – 11/11). Lễ nhận huy chương (Medal ceremonies)của đội tuyển Vương Quốc Anh (Great Britain Team) – đại diện cho tất cả các nước. Trong các trận đấu bóng đá của Anh (England) và Bắc Ai Len (Northern Ireland); riêng Scotland và xứ Wales sử dụng quốc ca riêng (Scotland có bài Flower of Scotland và người xứ Wales có bài Land of my Fathers – Hen Wlad Fy Nhadau).
Dăm ba lịch hẹn, vài cái deadline đã đốt cháy bạn trong một tuần làm việc. Bạn sẽ ăn món gì cuối tuần để có thể nạp lại năng lượng tràn đầy cho một tuần mới đây? Nếu ở Hanoi, tôi sẽ rất thích ngồi thưởng thích món bánh tôm Hồ Tây hay phở Lý Quốc Sư, còn nếu bạn ở Anh thì sao? Hãy nạp lại năng lượng theo cách của người Anh với “The Sunday roast” nhé. Món ăn này có gì mà đặc biệt đến vậy? English4ALL muốn cùng bạn một lần nữa du ngoạn vào khu vườn ẩm thực ít cây thưa lá của nước Anh để tìm hiểu về một trong những món ngon ít ỏi trong cuốn sách nấu ăn nổi tiếng mỏng nhất thế giới của xứ sương mù. Người ta thường nói thế giới sẽ là địa ngục nếu như người Anh là đầu bếp, tuy nhiên, người nói ra điều đó có lẽ sẽ nên nghĩ lại nếu một lần thử “The Sunday Roast”. Thật đấy! All aboard!
The Sunday Roast là một bữa ăn chính theo truyền thống ở Anh và Ai Len thường vào các ngày Chủ Nhật, tuy nhiên có thể ăn vào bất cứ ngày nào trong ngày, bao gồm thịt bỏ lò (roasted meat), khoai tây bỏ lò (roasted potato) hoặc khoai tây nghiền (mashed potato) và các đồ ăn kèm (accompaniments) như là bánh Yorkshire pudding (món bánh trứng sữa nướng bằng mỡ tiết từ thịt. Bánh giòn xốp, ăn khi mới ra lò nóng hổi.) hay apple sauce(Táo nấu mềm với quế và chanh rồi nghiền nhuyễn), rau củ, và sốt (gravy). Người ta cũng gọi là Sunday dinner, Sunday lunch, Roast dinner, và Sunday joint. Bữa ăn này tương đương với một bữa ăn truyền thống Giáng Sinh (a traditional Christmas dinner) nhưng nhỏ hơn một chút. Không chỉ phổ biến ở Anh, bữa ăn truyền thống vào tối ngày Chủ Nhật này còn ảnh hưởng lớn đến văn hoá ẩm thực (food culture) của nhiều nước, đặc biệt là các nước có dân số gốc đến từ Anh và Ai Len.
Tập tục ăn một bữa lớn sau khi hết lễ ở nhà thờ (church services) khá phổ biến ở hầu khắp Châu Âu và các quốc gia khác theo Thiên chúa giáo. Vào ngày Chủ Nhật, tất cả các loại thịt và các sản phẩm từ sữa (dairy product) đều có thể được phép ăn, không giống như những ngày thứ Sáu khi mà ở nhiều nơi các tín đồ Công giáo kiêng thịt (abstain from meat) chỉ ăn cá. Tương tự như vậy, người Công giáo Anh cũng có truyền thống nhịn ăn trước lễ nhà thờ ngày Chủ nhật, và sau đó ăn một bữa lớn hơn để kết thúc việc chay tịnh (break the fast)
Có hai ý kiến về nguồn gốc của bữa ăn Sunday Roast hiện đại. Một ý kiến cho rằng, trong thời kỳ cách mạng công nghiệp (industrial revolution), các gia đình ở vùng Yorkshire để một tảng thịt vào lò trước khi đi nhà thờ sáng Chủ Nhật, đến khi đi lễ xong ra về là vừa kịp ăn trưa. Ý kiến thứ hai cho rằng, bữa ăn Sunday Roast là có từ thời trung cổ (medieval times)khi các nông nô (serfs) phải hầu hạ giới địa chủ (the squire) sáu ngày một tuần. Và vào ngày chủ nhật, sau lễ nhà thờ, các nông nô sẽ tụ tập trên một cánh đồng và đấu vật với nhau để tranh phần thưởng (reward) là một tảng thịt bò nướng
Các loại thịt chính thường được dùng trong Sunday roast là thịt bò, gà, cừu, và heo, mặc dù đôi khi theo mùa cũng có cả thịt vịt, ngỗng (goose),gà lôi (turkey) và thậm chí cả thịt chim thú nữa.
Sunday roastsđược chuẩn bị với rất nhiều loại rau củ luộc (boiled), hấp (steamed) hoặc bỏ lò (roasted). Tuỳ theo mùa và tuỳ theo vùng, những sẽ luôn có khoai tây bỏ lò, với nước mỡ chảy ra từ thịt (meat dripping) hoặc dầu thực vật (vegetable oil) và sốt gravy làm từ các loại nước thịt . Khoai tây có thể bỏ xung quang tảng thịt, ngấm các loại nước thịt và mỡ. Tuy nhiên, nhiều đầu bếp lại ưa thích nấu khoai tây và bánh Yorkshire Pudding trong một cái lò nóng hơn lò dùng để nướng thịt, và lấy thịt ra khỏi lò trước và sau đó giữ nóng.
Một số các gia vị kèm theo nữa có lẽ phải tùy vào từng loại thịt nướng của Anh. Chẳng hạn như món thịt cừu nướng được ăn kèm với sốt bạc hà. Đối với các nước láng giềng Châu Âu, món thịt cừu nướng còn có thể kết hợp với một loại hỗn hợp gia vị của bạc hà cắt khúc, đường và giấm. Dù thế nào đi nữa thì đó cũng chính là sự hòa hợp các hương vị chua chua, ngọt ngọt làm cho món ăn đậm chất Anh cổ điển thêm hấp dẫn và rất dễ ăn.
Nếu là món thịt heo nướng của Anh thì nó được trang trí và ăn kèm với một loại sốt và thịt bằm nhồi hành tây. Món thịt nhồi này thường được đặt ở giữa cuộn thịt heo hay chỉ đơn giản được bày ra trên đĩa thịt nướng. Da heo được làm sạch với muối, rọc caro tẩm gia vị rồi nướng thật giòn được bày riêng trên dĩa và được phủ lên một lớp sốt táo cua ngọt làm cho món ăn thêm cầu kỳ, hấp dẫn.
Với món thịt gà nướng của người Anh, nó được nướng với nhân nhồi mặn mà. Cũng giống như món thịt lợn nướng nhưng cũng có thể thêm vào các gia vị như hành tây, mùi tây, húng tây. Kèm theo là sốt Redcurrant – một phụ gia truyền thống không thể thiếu của món thịt gà nướng.
Cuối cùng món nướng chính và phổ biến nhất của người Anh là món thịt bò nướng Roast Beef. Đây là món nướng ưa thích từ bao đời nay của người Anh.. Thật bất ngờ khi món ăn quý tộc này đã từng có tên trong “ The Roast Beef of Old England”, một bản nhạc thể loại ballad nói về truyền thống yêu nước của Anh, được chính nhà soạn kịch Henry Fielding viết trong vở kịch The Grub – Street Opera được trình diễn đầu tiên vào năm 1731.
Các loại rau ăn kèm trong bữa đồ nướng này bao gồm su hào tây (swede), cải bắp luộc hoặc hấp (cabbage), súp lơ xanh (broccoli), đậu xanh (green beans), cà rốt, và đỗ (pea).
Những đồ ăn còn sót lại (left-over food) từ ngày Chủ nhật thường được chuyển thành bữa ăn thường trong các ngày còn lại của tuần. Ví dụ, thịt có thể làm nhân bánh sandwich (sandwich fillings).
Ở Anh, nhiều quán pub luôn có Sunday Roast trong menu ngày Chủ nhật với nhiều loại thịt khác nhau và có cả lựa chọn cho người ăn chay.
Món thịt nướng của Anh – English Sunday Roast là một trong những món ngon ở châu Âu mà bất kỳ khách du nào cũng nên thưởng thức qua. Món ăn này không chỉ đơn thuần là món ăn dành cho ngày chủ nhật ở Anh hay các nước láng giềng khác ở châu Âu, mà còn là một phần của bản sắc dân tộc văn hóa Anh mà du khách nên trải nghiệm khám phá, để cảm hết sự thú vị tuyệt vời của nó.
Học một ngôn ngữ không chỉ là học vài câu nói “Hello, How are you?… mà thực sự là cần phải thu nhận cả một nền văn hoá mới, là “học ăn, học nói, học gói, học mở” như người Việt chúng ta thường nói. Nếu một ngày bạn có mặt ở Anh hoặc dùng bữa với người Anh, bạn có cảm thấy tự tin với phong cách ăn uống của mình không? “Nhập gia” phải “tuỳ tục”, và hôm nay chuyến tàu English4ALL tới ga British Way xin giới thiệu với các bạn một số “tục” về phép tắc khi ăn uống của người Anh (British Eating Etiquette), hi vọng sẽ giúp các bạn thêm phần hiểu biết và luôn luôn tự tin “nhập gia” thành công trong bữa tối với người Anh. All aboard!
Những điều bạn nên làm (Should-do)
Người Anh thường rất chú ý tới phong cách ăn uống tại bàn ăn (table manners). Thậm chí ngay cả trẻ em cũng được dạy để ăn sao cho đúng cách với dao và dĩa (knife and fork). Hầu hết đồ ăn đều sử dụng dao dĩa, ngoại trừ bánh sandwich, khoai tây chiên giòn (crisps), bắp ngô (corn on the cob) và trái cây.
Nếu bạn không thể ăn được một loại thức ăn nào đó hay có nhu cầu gì đó đặc biệt (special needs), hãy thông báo cho người chủ nhà/người tổ chức bữa tiệc trước vài ngày.
Nếu bạn là khách, phép lịch sự là chờ đợi chủ nhà bắt đầu ăn trước hoặc ra hiệu cho bạn bắt đầu ăn. Điều này thể hiện sự tôn trọng với chủ nhà.
Luôn phải nhai (chew) và nuốt (swallow) tất cả đồ ăn trong miệng trước khi lấy thêm đồ ăn hay đồ uống.
Luôn nói “Thank you” khi được phục vụ (được đưa thêm đồ ăn hay nước uống) để thể hiện sự trân trọng (appreciation)
Bạn có thể ăn gà, bánh pizza bằng tay nếu như bạn ở trong một buổi tiệc nướng, hay tiệc đứng, hay trong những bối cảnh thân mật. Những trường hợp khác, luôn cần phải sử dụng dao và dĩa.
Khi ăn bánh mỳ nhỏ (roll – loại bánh mỳ nhỏ hay dùng để ăn sáng), cần phải cắt nhỏ bánh mỳ trước khi phết bơ (buttering).
Khi dùng bữa trong những bối cảnh trang trọng, thường bạn nên lấy bơ từ đĩa bơ với dao cắt bánh mỳ (bread knife) và để cạnh đĩa của mình. Sau đó mới phết bơ lên bánh mỳ từ miếng bơ này, để tránh cho miếng bơ chung bị dính đầy vụn bánh mỳ (bread crumbs)
Ở nhà hàng, thường bạn sẽ trả tiền bằng cách đặt tiền lên đĩa đựng hoá đơn (bill) được người phục vụ mang tới.
……..và những điều không nên (Shouldn’t-do)
Không được liếm và cho dao ăn vào miệng.
Sẽ là bất lịch sự nếu như bắt đầu ăn trước khi những người khác được phục vụ đồ ăn, trừ khi người chủ nhà/chủ tiệc nói rằng bạn không cần phải đợi.
Không bao giờ được nhai mà mở miệng, và không nên tạo ra âm thanh khi nhai, nuốt đồ ăn.
Để khuỷu tay (elbow) lên bàn trong khi đang ăn cũng bị coi là bất lịch sự.
Không được với người sang đĩa của ai đó để lấy cái gì, hãy đề nghị người ta truyền thứ đó sang cho bạn
Không nên nói chuyện khi thức ăn còn trong miệng.
Cũng không nên giữ quá nhiều đồ ăn trong miệng.
Không sử dụng các ngón tay để bốc đồ ăn vào thìa hay dĩa.
Rất bất lịch sự nếu nhai nhóp nhép (slurp) hay gây tiếng ồn khi ăn.
Không được phép xì mũi vào khăn ăn (napkip/serviette). Khăn ăn/giấy ăn chỉ dành để lau nhẹ, chấm nhẹ (dabbing) lên môi (lips) và chỉ dành vào việc đó.
Không được lấy thức ăn từ đĩa của người bên cạnh
Không được lấy móng tay lấy thức ăn bị dắt trong kẽ răng.
Những điều được phép làm (OK to Do)
Bạn có thể tự rót đồ uống cho mình khi ăn cùng người khác, nhưng nếu lịch sự hơn thì nên đề nghị rót cho những người ngồi đối diện bạn trong bàn ăn.
Bạn có thể cho sữa và đường vào trà hay cà phê hoặc uống mà không cần cả hai thứ trên.
Nếu bạn không quen với việc sử dụng dao và dĩa?
Khi ăn tối theo kiểu Âu (continental style), dao sẽ được cầm phía bên phải, và dĩa cầm tay trái (sẽ là ngược lại nếu bạn là người tay chiêu). Phía trên của đĩa, sẽ là thìa và dĩa dành cho món tráng miệng (dessert spoon and fork)
Nếu bạn tới dự một bữa tối trang trọng (formal dinner party), bạn sẽ bắt gặp rất nhiều các loại thìa dĩa khác nhau. Phải làm thế nào bây giờ? Hãy làm quen với chúng và sử dụng cho đúng nhé.
Trong trường hợp như có vẻ bạn sẽ không thể nào ăn hết phần đồ ăn của mình vì quá nhiều.
Hãy nói:
“I’m sorry, but it seems that ‘my eyes are bigger than my stomach’.
(Tôi xin lỗi, nhưng có vẻ tôi no cái bụng đói con mắt)
Hoặc
“I’m sorry. It was so delicious but I am full”.
(Tôi xin lỗi. Đồ ăn ngon quá nhưng tôi no mất rồi)
Dao và dĩa (Story of Knife and fork)
Dĩa được được dùng bằng tay trái và dao bằng tay phải.
Nếu bạn cầm dao bằng một tay, thì tay kia cầm dĩa không được hướng phần nanh (tines) lên trên.
Giữ dao với phần tay cầm trong long bàn tay (palm) và dĩa ở tay kia với phần chĩa hướng xuống dưới.
Khi dùng bữa ở những bối cảnh trang trọng, có thể đặt dao và dĩa xuống khi đang ăn, hoặc khi nghỉ để trò chuyện.
Khi bạn đặt dao xuống, bạn có thể đổi tay cầm dĩa sang tay phải.
Khi bạn đã dùng bữa xong, để cho những người khác biết, bạn đặt dao và dĩa cùng với nhau lên đĩa, với răng dĩa (prongs) hướng lên trên.
Khi bạn chỉ dùng dĩa, nên cầm dĩa kẹp giữa ngón trỏ (index finger) và ngón cái (thumb).
Nếu bạn được giới thiệu lần đầu tiên với một cô gái Anh xinh đẹp, bạn sẽ bắt tay cô ấy hay hôn? Thực ra, điều đó bạn sẽ không thể tự quyết định được bởi vì muốn chứng tỏ mình là một người lịch sự, hiểu biết, và muốn tạo ấn tượng đầu tiên tốt đẹp, bạn cần phải biết và theo những nghi thức và quy tắc riêng về chào hỏi của người Anh mà chuyến tàu hôm nay của English4ALL tới ga British Way sẽ giới thiệu. ALL ABOARD!
Phép xã giao Bắt tay và Hôn khi gặp mặt. (Handshake & Kiss)
Một cái bắt tay (a handshake) là hình thức chào hỏi (most common form) thường gặp nhất ở Anh mang tính chất phong tục (customary) khi bạn được giới thiệu với ai đó lần đầu tiên. Khi bắt tay, người ta thường nhìn thẳng vào nhau nhưng không quá lâu (not a prolonged direct eye contact)
Nam giới thường bắt tay khi được giới thiệu với nhau. Phụ nữ thường hiếm khi làm vậy nếu người được giới thiệu là nam, những giữa nữ – nữ, họ sẽ bắt tay nếu đứng gần nhau. Trên đường phố, nam giới không bao giờ được phép bắt tay một phụ nữ nếu như chưa tháo găng tay phải (right glove), tuy nhiên nếu ở rạp hát (opera), hay vũ hội (a ball) thì không cần thiết phải tháo.
Bạn chỉ có thể hôn để chào khi gặp bạn bè, đặc biệt là những người mà bạn đã lâu không gặp. Thông thường, bạn sẽ hôn lên má (kiss the cheek) nếu như là đó là người bạn khác giới. Và ở Anh, chỉ một cái hôn má như vậy là đủ.
Cheek kiss
Nguồn gốc của nghi thức bắt tay
Người ta tin rằng việc bắt tay đã bắt nguồn từ thời trung cổ (Medieval times), khi phần đông nam giới thường mặc áo giáp (covered in armor), họ xoè bàn tay phải về phía nhau, để chứng tỏ rằng không hề mang theo vũ khí, gươm, dao- như một biểu hiện của sự hữu hảo và thân thiện. Mục đích của bắt tay là truyền tải sự tin cậy (trust), cân bằng (balance) và bình đẳng (equality).Dần dần, nghi thức bắt tay đã trở nên phổ biến, và đa dạng hoá về ý nghĩa. Ngày nay, cái bắt tay được dùng để chào nhau, tạm biệt nhau, đồng ý – nhất trí với nhau, đôi khi thể hiện ý chúc mừng hay cảm ơn. Trong thi đấu thể thao, bắt tay còn là biểu tượng của tinh thần thể thao trong sáng (as a sign of good sportsmanship).
Ông Joseph Lazarow, Thị trưởng thành phố Atlantic, bang New Jersey, Hoa Kỳ là người được ghi vào sách kỷ lục Guiness của thế giới vì trong một sự kiện với công chúng, ông đã bắt tay 11.000 bàn tay trong một ngày tháng 7, 1977. Kỷ lục trước đó thuộc về cố Tổng thống Mỹ Theodore Roosevelt với 8.513 cái bắt tay trong một buổi tiếp tân (reception) ở Nhà Trắng vào ngày 1/1/1907
Chào hỏi trang trọng (Formal greetings)
Câu chào hỏi trang trọng (formal greeting) phổ biến nhất là “How do you do” đi kèm với một cái bắt tay chặt (a firm handshake), tuy nhiên giữa đàn ông và phụ nữ, thì là một cái chạm tay nhẹ nhàng (a lighter touch) hơn là bắt tay thật sự.
Trong giao tiếp thương mại, công việc, việc giới thiệu tuỳ thuộc vào vị trí của người đó trong công ty. Người có thứ bậc cao nhất sẽ được giới thiệu trước. Nếu bạn phai giới thiệu hai người có thứ bậc ngang nhau (equal rank), giới thiệu người mà bạn biết ít về họ hơn cho người kia.
“How do you do?” là một câu chào, không phải là một câu hỏi, và cách phản hồi đúng nhất đó chính là lặp lại. Khi bạn bắt tay với ai đó lần đầu tiên, bạn sẽ nói câu này.
Mr. A :”How do you do?” (Chào chị.)
Ms. B:” How do you do?”(Chào anh.)
Và thường sau câu chào đầu tiên này, người Anh thường dùng một số câu nói lịch sự để bày tỏ sự hân hạnh khi được biết người được giới thiệu. Ví dụ như:
Nice to meet you – Nice to meet you too. (Thường nói khi bắt tay)
Delighted to meet you– Delighted to meet you too.
Pleased to meet you – Pleased to meet you too. .
Glad to meet you – Glad to meet you too
Chào hỏi thông thường (Informal greetings)
Good Morning / Good Afternoon / Good Evening
‘How are you?’là một câu hỏi xã giao , và cách trả lời thông thường nhất và lịch sự nhất là “I am fine thank you and you?”
Ms. A: “How are you?” (Anh có khoẻ không?)
Mr. B: “I am fine thank you and you?” (Tôi khoẻ, cảm ơn chị, còn chị thì sao?)
Hi – Hi/hello
Morning / Afternoon / Evening (Lược bỏ từ Good sẽ thành cách chào thân, không trang trọng)
How’s you? – Fine thanks. You?
Thank you / thanks / cheers
Đôi khi người ta nói “cheers” thay vì “thank you”. Bạn cũng có thể nghe người ta nói “cheers” thay vì “good bye”, điều mà thực sự họ muốn nói là “thanks and bye”
Bạn có biết?
Người ta thường không chào nhau trong nhà thờ, trừ khi là trong một lễ cưới (a wedding). Trong các lễ cưới, người ta có thể nói chuyện với bạn bè ngồi gần nhau nhưng rất khẽ. Thông thường, nếu gặp một người bạn, bạn sẽ mỉm cười để chào thay vì chào hỏi thông thường, và tuyệt đối không bao giờ được thực sự cúi chào nhau trong nhà thờ, vì đó là nơi thiêng liêng, chỉ cúi đầu trước Chúa. Bạn chỉ có thể chào hỏi như thường, Hello/How are you? Khi bạn bước ra khỏi thềm cửa nhà thờ.
Trước thềm mỗi năm học mới, đặc biệt là khi chuyển cấp, các em học sinh ở Vietnam thường phải chịu một áp lực rất lớn để có thể được chọn vào học ở một trường tốt. Câu chuyện “trường chuyên lớp chọn”, trường công – trường tư luôn là một vấn đề nóng bỏng làm đau đầu các bậc phụ huynh. Còn ở bên kia bán cầu, nước Anh xa xôi, chuyện trường học như thế nào, các loại hình trường học khác nhau ra sao? Public school, Private school, Grammar school có giống nhau không? Tất cả những câu hỏi đó sẽ được English4ALL giải đáp thông qua chuyến tàu ngày hôm nay tới ga British Way: Tìm hiểu hệ thống trường học phổ thông của Anh. All aboard!
Giáo dục phổ thông ở Anh thường được chia thành hai giai đoạn riêng biệt. Giáo dục tiểu học (primary education)thường bắt đầu từ 5 tuổi đến 11 tuổi. Sau đó là giáo dục trung học (secondary education)từ 11 tuổi đến 16 tuổi, và có thể kéo dài tới 18 tuổi.
Các loại hình trường học chính ở Anh bao gồm
State School – Trường công lập, hoàn toàn miễn phí cho tất cả trẻ em từ 5 đến 16 tuổi.
Independent School: Trường độc lập- (Private/Public Schools) do cha mẹ học sinh chi trả học phí
1. State Schools – Các trường công lập
93% trẻ em ở Anh và xứ Wales theo học tại các trường công lập (State schools). Các trường này là miễn phí, hoạt động dựa vào tiền thuế (taxes)và do các chính quyền địa phương (Local Authorities) tổ chức và quản lý.
Cha mẹ học sinh chỉ cần mua sắm cho con cái họ các đồ dùng học tập như bút, bút chì, thước kẻ…..ngoài ra, các chi phí về sách vở, lệ phí thi, và các khoản phí khác đều do nhà trường chi trả.
Tuy nhiên, cha mẹ học sinh cũng phải trả khoản tiền dành cho đồng phục (school uniform) và các trang phục thể thao (sports wear). Các lớp học nhạc và các lớp học dã ngoại (residential trips) cũng thu thêm phí. Các trường đôi khi đề nghị sự đóng góp tự nguyện dành cho các hoạt động của nhà trường, nhưng không có học sinh nào bị loại ra khỏi các hoạt động nếu như cha mẹ hoặc người giám hộ (guardian) của em đó không thể đóng góp.
Trường tiểu học -Primary schools(dành cho trẻ từ 5-11 tuổi)
Ở Anh, bậc học đầu tiên là bậc tiểu học. Thường là các trường học dành cho cả các em trai và các em gái, và trường ở gần nhà học sinh. Các em được chia thành các nhóm, và có một giáo viên chủ nhiệm phụ trách. Cha mẹ học sinh được khuyến khích hỗ trợ con em mình, đặc biệt là môn đọc và viết; một lượng nhỏ bài tập về nhà được đặt ra cho tất cả học sinh, thậm chí ngay trong những năm học đầu tiên.
Trường trung học- Secondary schools (dành cho trẻ từ 11-16 tuổi)
Hầu hết trẻ em đến năm 11 tuổi, đều được chuyển sang một trường trung học gần nhất, mặc dù luật pháp cho phép cha mẹ học sinh được phép lựa chọn trường khác. Mỗi một học sinh khi chuyển cấp đều đã có sẵn chỗ của mình tại trường mới, trừ khi trường có quá nhiều học sinh đăng ký, thì sẽ xét tuyển theo mức độ ưu tiên cao nhất. Hầu hết các trường trung học đều dành cho cả hai giới, và lớn hơn so với trường tiểu học.
88% học sinh phổ thông ở Anh và xứ Wales học ở các trường phổ thông hỗn hợp (comprehensive schools). Các trường này tiếp nhận học sinh ở mọi trình độ và phổ cấp giáo dục phổ thông cho tất cả hoặc hầu hết trẻ em trong một quận từ 11 cho tới 16 hoặc 18 tuổi với nhiều chương trình học và thời gian học khác nhau.
Trái với tính chất đại trà của trường phổ thông hỗn hợp (comprehensive schools), các trường phổ thông trung học chuyên (Grammar Schools) lại tổ chức thi tuyển để lựa chọn học sinh, các trường này thường có định hướng chuyên biệt về học thuật (academically oriented), để học sinh sau này có thể học lên các bậc cao hơn (Đại học), mô hình này gần giống như mô hình trường chuyên tại Vietnam. Kỳ thi tuyển chọn năng lực dành cho học sinh 11 tuổi. Grammar school thường sẽ chia thành trường nam sinh và trường nữ sinh.
Sở dĩ có tên gọi là “Grammar school” không phải là vì trường này chỉ dạy môn ngữ pháp (grammar) mà vì thời trung cổ, đây là các trường dạy tiếng Latin. Theo thời gian, chương trình học (curriculum) được mở rộng, thêm vào các môn như tiếng Hi Lạp cổ (Ancient Greek), tiếng Anh, các ngôn ngữ châu Âu, khoa học tự nhiên (natural sciences), toán, lịch sử, địa lý, và các môn khác. Vào thời Victoria, các trường grammar school được tổ chức lại để giáo dục bậc phổ thông trung học trên toàn nước Anh và xứ Wales, Scotland phát triển một hệ thống trường khác. Một số trường grammar school ở Anh hiện nay còn có lịch sử từ trước thế kỉ 16, và họ vẫn giữ từ “grammar” trong tên trường như một niềm tự hào về truyền thống của nhà trường.
2. Independent Schools – Các trường học độc lập (Tư thục)
7% trẻ em ở Anh học ở các trường tư. Nhóm các trường này bao gồm private schools và public schools, tất cả đều thu học phí.
Public Schools (Trường dân lập)
Trường Eton- Một trong những public school nổi tiếng nhất tại Anh
Đây là những trường có lịch sử lâu đời và đã được thành lập từ nhiều thế kỉ trước. Các trường này học phí rất đắt đỏ và rất uy tín (prestigious). Một số trường rất khó để có thể vào học vì có sự cạnh tranh rất mạnh. Khi bạn nghĩ đến các trường học nổi tiếng ở Anh, có lẽ những trường đó đều là Public School cả. Những trường này thường không phải đóng thuế từ nguồn thu học phí vì có danh nghĩa từ thiện (charitable status). Sở dĩ gọi là “public” là vì nguyên thuỷ trường phổ cập giáo dục cho quần chúng (public) từ hàng thế kỉ trước, nhưng hiện nay đã đổi khác. Các trường này thường cấp các loại học bổng (scholarships and bursaries) để danh nghĩa từ thiện của mình.
Các trường dân lập nổi tiếng nhất tại Anh là Eton, Harrow và Winchester.
Private Schools (Trường tư thục)
Các trường tư thục (Private School) không nổi tiếng bằng các trường dân lập (Public school). Tuy nhiên vẫn có cơ sở vật chất rất tốt và tiêu chuẩn học thuật cao. Các trường này thường khá dễ đi xin vào học thường không đòi hỏi CEE (Common Entrance Exams) – không cần phải thi. Học sinh không cần phải theo chương trình quốc gia (national curriculum). Tất cả các trường tư thục phải được đăng ký với chính phủ và được giám sát thường xuyên.
Quốc kỳ luôn luôn là một trong mỗi biểu tượng thiêng liêng của mỗi quốc gia, nhưng Quốc kỳ của Vương Quốc Anh, hay còn gọi là Union Jack còn chứa đựng cả một câu chuyện lịch sử hình thanh và phát triển của cả Vương Quốc. Ngày nay, đó là lá cờ kiêu hãnh, biểu trưng cho sự thống nhất, hài hòa của các quốc gia thành viên như một khối sức mạnh. Bạn có biết rằng trên lá quốc kỳ của Vương quốc Anh có sự hiện diện của những 3 vị thánh không? Hãy cùng English4ALL đến với ga British Way để tìm hiểu đôi điều về lá quốc kỳ rất đặc biệt này. All Aboard!
Tên gọi
Quốc kỳ của Vương Quốc Anh (the United Kingdom) thường được biết đến với cái tên The Union Flag (Cờ thống nhất) hay phổ biến hơn, còn gọi là Union Jack.
Sở dĩ lá cờ trên được gọi là Union Flag bởi vì nó tượng trưng cho sự thống nhất hành chính (administrative union) của các nước thành viên (countries) trong Vương Quốc Anh. Đây là lá cờ được hình thành từ những lá cờ riêng của mỗi nước thành viên: Anh (England), Scotland, và Bắc Ireland (Northern Ireland) (kể từ năm 1921, chỉ còn duy nhất Bắc Ai Len là thuộc Vương quốc Anh, miền Nam Ai Len là một nước khác: Cộng hòa Ireland). Bởi vì Wales là một xứ (principality)không phải là một nước, do đó không hiện diện trên lá cờ Union Flag.
Lịch sử hình thành.
Nước Anh (England) được đại diện bởi lá cờ của thánh George (St. George). Năm 1194, Vua Richard đệ Nhất của Anh (England)giới thiệu Chữ thập của thánh George (the Cross of St. George), đó là một chữ thập màu đỏ trên nền trắng.
Cờ chữ thập của thánh George – Cờ của Anh (England)
Vào thời điểm này, Anh (England), Scotland, Wales, và Ireland vẫn còn là những nước riêng rẽ (separate countries). Cho đến năm 1536, dưới triều đại của vua Henry VIII, đạo luât Thống Nhất (Act of Union) đã đưa Wales trở thanh một tỉnh thuộc Anh (England)
Scotland lại được đại diện bởi lá cờ của Thánh Andrew( St. Andrew- vị thánh bảo hộ) – đó là lá cờ có chữ thập chéo màu trắng trên nền xanh.
Cờ chữ thập của thánh Andrew – Cờ của Scotland
Sauk hi nữ hoàng Elizabeth đệ nhất qua đời vào năm 1603, Vua James VI của Scotland kế thừa vương vị (throne) và trở thành vua James I của nước Anh (England). Đó là sự thống nhất về vương quyền (Union of the Crowns) nhưng không phải là sự thống nhất về lãnh thổ, mỗi nước vẫn giữ nghị viện riêng của mình (parliament). Một năm sau, vào ngày 22 tháng Ba 1604, nhà vua quyết định đưa ra nghị viện ý định sát nhập Anh (England) và Scotland lại làm một vương quốc thống nhất gọi là Great Britain, tuy nhiên đề nghị này bị từ chối. Vua James bất chấp việc này, ngày 20/10/1604, ngài tự phong cho mình một tước hiệu mới, “Kings of Great Britain” (Vua của Anh Quốc).
Nhưng vấn đề nảy sinh là trên thuyền của nhà vua phải treo cờ nào đây, trong khi thủy thủ người Anh thì ghét lá cờ của Scotland, trong khi thủy thủ của Scotland cũng không ưa gì cờ Anh.
Đến năm 1606, vấn đề được giải quyết, nhà vua quyết định hợp nhất hai lá cờ Anh và Scotland lại làm một, tạo ra lá cờ thống nhất đầu tiên (Union Flag). Ngày 12/04/1606, lá cờ thống nhất của Anh và Scotland được sử dụng trên biển, tuy nhiên, ở từng nước vẫn giữ lá cờ cũ. Một sắc chỉ (royal decree) của nhà vua yêu cầu mọi tàu thuyền của Vương Quốc Anh phải treo lá cờ thống nhất. Khi cờ chữ thập đỏ của Anh kết hợp với cờ chữ thập trắng của Scotland đã có thêm một phần đường viền màu trắng để hai lá cờ không bị “chạm” vào nhau.
Lá cờ thống nhất đầu tiên của Anh và Scotland. Gọi là The Union
Ngày 28/07/1707, dưới triều đại của nữ hoàng Anne, lá cờ này đã được Hoàng gia quyết định chọn đây là Quốc kỳ (National Flag) của Vương Quốc Anh (Great Britain), sử dụng cả trên đất liền và trên biển. Đạo luật thống nhất năm 1707, đã thống nhất được hai nước Anh và Scotland tạo ra một vương quốc- một nghị viên chung gọi là “Vương Quốc Liên Hiệp Anh”( ‘United Kingdom of Great Britain‘). Hải quân Hoàng gia (Royal Navy) đã đặt tên cho lá cờ là “The Union”.
Nước Ireland có lá cờ chữ thập của thánh Patrick (St. Patrick) với chữ thập đỏ chéo trên nền trắng
Đây là lá cờ tượng trưng cho phần lãnh thổ phía Bắc của Ireland thuộc Anh ngày nay.
Vào ngày 1/1/1801, Ireland thống nhất với Vương Quốc Anh, và yêu cầu đặt ra là cần thiết phải có một lá Quốc Kỳ mới mà trong đó Ireland cũng được đại diện. Và thế là lá cờ của thánh Patrick đã được kết hơp với cờ Thống Nhất (The Union Flag), tạo ra lá Quốc Kỳ của Vương Quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ai Len như ngày nay chúng ta vẫn thấy.
Lược sử hình thành của Quốc kỳ Anh – Union Jack
Quốc kỳ Anh bay trên các tòa nhà của chính phủ (government building) vào những ngày sau:
Nếu như người Nhật có hoa anh đào, người Lào có hoa đại (champa) và người Việt luôn tự hào về những bông hoa sen thanh khiết và tươi đẹp – là loài hoa tượng trưng cho dân tộc và văn hóa Việt Nam, được coi là quốc hoa của cả nước thì người dân Anh lại chưa thể thống nhất lựa chọn được một loài hoa duy nhất để làm quốc hoa cho cả Vương quốc của họ. Tuy nhiên, từng nước thành viên đều chọn những loài hoa rất đẹp để làm quốc hoa riêng cho đất nước của mình. Những loài hoa đó là gì? Hãy cùng English4ALL tới ga British Way thứ sáu hàng tuần để cùng trả lời câu hỏi đó nhé. All aboard!
Mặc dù không có một quốc hoa (floral emblem) thống nhất cho cả vương quốc, nhưng mỗi nước thuộc Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ai Len (The United Kingdom) đều có vị thánh bảo trợ (patron saint) và quốc hoa riêng của họ.
1. Nước Anh (England) – Thánh George và Hoa Hồng
Vị thánh bảo trợ của nước Anh là Thánh George và quốc hoa của Anh là hoa hồng (rose), chính xác là hoa hồng Tudor (Tudor Rose – như trong hình). Không phải tự nhiên loài hoa này được lựa chọn là quốc hoa của nước Anh (England). Đó là kết quả từ những cuộc nội chiến (civil war) – được gọi là Cuộc chiến của các loài hoa hồng (Wars of the Roses) diễn ra từ 1455 đến 1485 giữa phe quý tộc Lancaster (biểu tượng là hoa hồng đỏ) và phe quý tộc York (biểu tượng là hoa hồng trắng).
Quốc hoa của Anh (England) là hoa hồng Tudor (Tudor Rose)
2. Xứ Scot-len (Scotland )- Thánh Andrew và hoa Kế and Scottish Bluebell
Vị thánh bảo trợ của xứ Scotland là Thánh Andrew và quốc hoa của Scotland là hoa kế (thistle). Đây là một loại hoa mầu tím, họ cúc gai được sử dụng lần đầu tiên vào thế kỉ 15 như một biểu tượng quốc phòng .Hoa chuông xanh Scotland (Scottish bluebell) cũng được coi là một loài hoa khác biểu tượng cho Scotland.
Hoa kế (Thistle) là quốc hoa của ScotlandHoa chuông xanh cũng là một loài hoa biểu tượng khác của Scotland.
3. Xứ Wales – Thánh David và hoa thủy tiên vàng (Daffodil)
Thánh bảo trợ của xứ Wales là thánh David và quốc hoa của Wales là hoa thủy tiên vàng (daffodil) thường được đeo trong ngày lễ thánh David. Cây tỏi tây (leek) cũng được coi là một biểu tượng truyền thống của Wales.
Có nhiều cách giải thích vì sao cây tỏi tây lại trở thành biểu tượng của xứ Wales. Một trong số đó là việc Thánh David đã dạy người Welsh đeo cây tỏi tây lên mũ để phân biệt địch ta (friends from foe)trong trận chiến ban đêm với người Saxons.
Hoa thủy tiên vàng (Daffodils) là quốc hoa của xứ Wales
Không chỉ là một thứ gia vị quan trọng trong nhà bếp, cây tỏi tây (leek) còn được coi là một trong những biểu tượng của xứ Wales.
4. Bắc Ai Len (Northern Ireland) – Thánh Patrick và cây lá chụm ba (Shamrock)
Người Bắc Ai Len coi cây lá chụm ba (shamrock) này là quốc hoa để nhớ tới vị thánh bảo hộ của họ là thánh Patrick
Thánh bảo trợ của miền đất Bắc Ai Len là thánh Patrick và quốc hoa là cây lá chụm ba, gần giống như cỏ ba lá (clover). Truyền thuyết Ai Len (Irish tale) kể rằng thánh Patrick đã dùng cây lá chụm ba (shamrock) để giải thích về Chúa Ba Ngôi. Ngài đã dùng nó trong những buổi thuyết giáo (sermons)của mình để minh họa vì sao Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần (the Father, the Son, and the Holy Spirit) có thể tồn tại riêng biệt trong cùng một thực thể ( entity). Các tín đồ (followers) từ đó có tập tục đeo cây lá chụm ba vào ngày lễ thánh Patrick.
Là một đô thị quốc tế với sự đa dạng văn hóa và sắc tộc tầm cỡ thế giới, London là điểm hẹn của rất nhiều nền văn hóa giàu bản sắc từ năm châu tụ hội và phát triển. Ở London, bạn có thể tham dự Tết Nguyên Đán, Tết Trung thu, các lễ hội đặc trưng của Thổ Nhĩ Kỳ, Đông Âu và từ nhiều vùng của thế giới. Tuần vừa qua, du khách đến với London sẽ may mắn có cơ hội tham dự London Notting Hill Carnival – là một lễ hội văn hóa được tổ chức hàng năm vào ngày Bank Holiday của tháng 8 (25/08) trong suốt 50 năm qua.. Đây là nơi hội tụ của rực rỡ sắc màu, những vũ điệu Latin cuồng nhiệt, sức hấp dẫn nóng bỏng không thể cưỡng lại. Không cần phải đến tận châu Mỹ La Tinh để biết thế nào là một carnival bởi vì chúng ta có thể hoà mình vào một carnival đích thực ngay giữa lòng London. Nhịp sống bận rộn phải nhường bước cho không gian lễ hội ngập tràn khắp đường phố khu Notting Hill. Hãy cùng English4ALL tìm hiểu về lễ hội mang đậm màu sắc Mỹ Latin này tại ga British Way ngày hôm nay nhé! All aboard!
The Notting Hill Carnival – là lễ hội đường phố lớn nhất (street festival) Châu Âu và khởi nguồn từ năm 1964. Đây là cách mà các cộng đồng văn hóa Caribe (Caribbean) ở London kỉ niệm các giá trị văn hóa và truyền thống riêng biệt của họ. Được diễn ra vào ngày nghỉ lễ Bank Holiday của tháng Tám trên các đường phố của khu vực Notting Hill, phía tây của London (W11), đây là lễ hội tuyệt vời của âm thanh, màu sắc và tinh thần đoàn kết xã hội (social solidarity)
Nguồn gốc của lễ hội Notting Hill Carnival là các lễ hội hóa trang của Carribe đầu thế kỉ 19 – một truyền thống văn hóa rất mạnh mẽ ở Trinidad. Họ kỉ niệm việc bãi bõ chế độ nô lệ và buôn bán nô lệ (slavery trade). Lễ hội đầu tiên chỉ là một cuộc biểu diễn các các nghệ sỹ nhạc khí trình diễn ở khu Earls Court của London vào cuối tuần, khi các ban nhạc (bands) diễu hành qua các khu phố của Notting Hill, họ thu hút được cư dân da màu tràn ra phố, làm họ nhớ lại văn hóa Carribe mà có lẽ họ đã để quên nơi quê nhà. Những điệu nhảy, những bài hát của người Trinidad được trình diễn lại. Trong thời kỳ bị nô dịch, họ bị cấm tổ chức những lễ hội của riêng mình, giờ đây, được hưởng một nên tự do dân chủ mới, họ có cơ hội thể hiện bản sắc văn hóa của mình. Họ cải trang trong những bộ trang phục thời trang Âu Châu giống như những ông chủ trước đây của họ, thậm chí còn nhuộm trắng mặt bằng bột, đeo mặt nạ trắng, những nét đặc trưng đó hiện vẫn còn trong Notting Hill Carnival ngày hôm nay. Mỗi năm lễ hội Notting Hill Carnival thường tiếp đón đến gần 1 triệu lượt khách đến tham dự.
Một số hình ảnh về Lễ hội London Notting Hall Carnival.
Với bất kỳ một nền văn hóa nào, hôn nhân với sự khởi đầu bằng một lễ cưới luôn luôn là một sự kiện quan trọng bậc nhất trong cuộc đời của mỗi con người. Nếu như người Việt có những phong tục lâu đời và đậm nét Á Đông trong các nghi thức cưới xin, thì văn hóa Anh cũng sở hữu vô số những điều lý thú mà chúng ta thật không nên bỏ qua. Hãy cùng lên ngay chuyến tàu văn hóa hôm nay của English4ALL đến ga British Way để tìm hiểu đôi nét về chuyện cưới xin của người Anh nhé. All aboard!
Trước đám cưới
Ở Anh, một cuộc hôn nhân luôn bắt đầu bằng màn cầu hôn (proposal of marriage hay proposal). Theo truyền thống, người đàn ông luôn là người phải quỳ xuống để ngỏ lời cầu hôn cùng với một chiếc nhẫn (an engagement ring) và một câu hỏi hết sức trang trọng “Will you marry me?” (Em sẽ lấy anh chứ?). Ở Anh, chiếc nhẫn đính hôn thường được nữ giới đeo ở ngón tay thứ ba trên bàn tay trái (ring finger).
Tuy nhiên, nếu như bạn là nữ giới, và chờ mãi đối tác không có “tín hiệu” gì, bạn hoàn toàn có thể chủ động “cầu hôn ngược” tuy nhiên chỉ vào một ngày duy nhất trong bốn năm: 29 tháng 2 của năm nhuận (leap year)
Trong khoảng thời gian, giữa lễ đính hôn (engagement) và lễ cưới (wedding), hai người sẽ gọi nhau là hôn phu – chồng chưa cưới (fiancé) và hôn thê – vợ chưa cưới(fiancée)
Khi đám cưới đã được định ngày, sẽ có một thông báo về hôn lễ (the banns of marriagehay gọi tắt là the banns) sẽ được treo ở nhà thờ địa phương (local parish church) hoặc văn phòng đăng ký kết hôn (register office) để báo cho tất cả mọi người biết về đám cướp sắp diễn ra. Mục đích của the bannslà để nếu ai có vấn đề gì thắc mắc, có thể khiếu nại để kịp thời vô hiệu hóa đám cưới (trong trường hợp có vợ/chồng cũ chưa ly dị hoặc hôn nhân cùng huyết thống (kinship)
Ở Anh, một cuộc hôn nhân chỉ trở thành hợp pháp sau khi thông báo này được niêm yết và giấy đăng ký kết hôn (a marriage certificate) được cấp.
Thành phần lễ cưới
Ngoài hai nhân vật chính, cô dâu (bride)và chú rể (groom), đám cưới còn có rất nhiều người. Những công việc trong đám cưới thường do bạn bè thân thiết của cô dâu và chú rể đảm nhận, và được đề nghị giúp những việc này là một điều vinh hạnh to lớn.
Để giúp cho cặp đôi, có người mang nhẫn (Ringbearer) thường là một cậu bé làm nhiệm vụ giữ cặp nhẫn cưới (wedding rings). Và Usherslà những người giúp việc tổ chức đám cưới, thường là nam giới.
Giúp việc riêng cho chú rể, có phù rể (bestman) – một người bạn nam thân thiết hay họ hàng của chú rể sẽ nhận vinh dự này, và còn có nhiều người giúp việc khác nữa, gọi là groomsmen.
Về phía cô dâu, phù dâu (maid of honour) cũng thường là bạn thân hoặc họ hàng của cô dâu. Nếu cô phù dâu này đã kết hôn, sẽ gọi là “matron of honour”. Ngoài ra còn có những phù dâu “phụ” gọi là bridemaids. Cha của cô dâu (Father of the Bride) – là nhân vật mang tính biểu tượng làm nhiệm vụ “trao” cô dâu cho chú rể. Nếu như cha đẻ của cô dâu không may đã qua đời, thì một người họ hàng là nam giới, thường là chú ruột hoặc anh trai sẽ nhận sứ mệnh này.
Ngoài ra còn có “flower girl– một em bé gái sẽ rải hoa (scatter flower) trước bữa tiệc cưới, đôi khi còn có các “junior bridemaids” – phù dâu “nhí”là các cô gái từ 8-16 tuổi giúp việc cho cô dâu.
Page boy và Flower girl
Khách mời dự đám cưới (wedding guests) thường được gửi giấy mời trong đó có yêu cầu hồi âm (rsvp). Họ thường được mời tới dự lễ cưới (wedding) và tiệc cưới (wedding reception) diễn ra sau đó, mặc dù đôi khi tiệc cưới mời rất hạn chế. Sẽ có những người chắc chắn phải được mời theo nghĩa vụ gia đình (family obligations) và do đó, nếu như không được mời – họ sẽ coi đó như một sự xúc phạm (an insult).
Lễ cưới.
Ngày cưới thường được ca tụng như “ngày hạnh phúc nhất trong cuộc đời cô dâu”( không thấy nhắc đến chú rể, nên những ai đã có vợ nên tự hiểu), những thực sự đó là một trải nghiệm khá căng thẳng khi có quá nhiều việc phải lo lắng, và luôn phải cố gắng để làm vui lòng tất cả mọi người. Đó cũng là một bài test đầu tiên cho sức chịu đựng (fortitude) của cặp đôi
Khi khác tới dự lễ cưới, ushers sẽ làm nhiệm vụ phát hoa và lịch trình của buổi lễ, và đưa họ về đúng chỗ. Theo truyền thống, nhà trai và nhà gái sẽ ngồi theo hai dãy riêng. Những hàng ghế đầu thường dành cho gia đình và bạn bè thân thiết.
Chú rể và người phù rể sẽ đợi cô dâu và tùy tùng (entourage) phía trong nhà thờ. Đoàn của cô dâu bao gồm cô dâu, cha cô dâu, phù dâu chính và các phù dâu phụ, các em bé (flower girl và page boy), thường đi đến trong những chiếc xe đẹp hoặc xe ngựa kéo. Nhiệm vụ của page boy là mang nhẫn cưới trên một chiếc gối (cushion)
Người dẫn chỗ (usher) và các phù rể phụ lần lượt đưa ông bà, mẹ cô dâu, mẹ chú rể về chỗ ngồi.
Các phù dâu phụ (bridemaids)tiến vào, cùng với các phù rể phụ (groomsmen)
Kế đến là phù dâu (maid/matron of honour)cùng với phù rễ (best man)tiến vào nhà thờ. Theo sau là em bé giữ nhẫn (page boy/ringbearer) – em bé rắc hoa (the flower girl) tiến vào.
Cuối cùng là cô dâu dưới sự hộ tống của cha mình sẽ đi vào sau cùng trong tiếng nhạc đệm (thường là “Here comes the bride”) và buổi lễ chính thức bắt đầu.
Trong buổi lễ, cô dâu và chú rể sẽ có những lời thề hôn phối (marriage vows). Theo văn hóa phương Tây, những lời hứa giữa cô dâu và chú rể thường bao gồm những ý niệm về tình yêu thương (affection –love,comfort, keep), sự thủy chung (forsaking all others), vô điều kiện (for richer or poorer, in sickness and in health) và sự lâu bền (“as long as we both shall live” –“until death do us part”). Phần lớn các đám cưới sử dụng các lời thề theo nghi lễ tôn giáo, nhưng ngày nay, ở Anh, nhiều cặp đôi sử dụng những bài thơ tình rất xúc động hoặc lời bài hát từ một bản tình ca nào đó, thậm chí tự viết lời thề riêng cho mình hơn là dựa vào những chuẩn mực cũ.
Sau khi thề ước, cặp đôi sẽ trao nhẫn cho nhau. Nhẫn cưới thường là nhẫn vàng trơn và đeo vào ngón đeo nhẫn (ring finger) vì người ta tin rằng ở ngón tay đó có mạch máu (vein) dẫn thẳng đến tim.
Sau phần nghi lễ, cô dâu, chú rể, và viên chức đăng ký, cùng hai nhân chứng (witnesses) sẽ sang một phòng bên cạnh để ký giấy đăng ký kết hôn – đây là bước bắt buộc để hợp thức hóa hôn nhân.
Sau đó, khách mời sẽ tung cánh hoa (flower petals), pháo giấy (confetti), và gạo vào cặp đôi mới cưới (newly-married)để chúc phúc.
Cô dâu sẽ đứng quay lưng lại với khách mời và ném bó hoa cưới (bouquet) qua đầu. Ai bắt được bó hoa đó sẽ là người kế tiếp thành hôn.
Ai là người bắt được bó hoa này sẽ là người tiếp theo thành hôn
Cuối cùng, một buổi chụp hình sẽ diễn ra ngay trước khi cặp đôi rời nhà thờ, mọi người sẽ cùng đứng chung để chụp ảnh.
Ngày nào đẹp để làm đám cưới?
Người Việt thường có thầy bói, thầy cúng để xem ngày tổ chức đám cưới. Người Anh thì kém may mắn hơn, họ chỉ có một bài thơ như thế này
Monday for wealth, Tuesday for health, Wednesday the best day of all. Thursday for losses, Friday for crosses, Saturday for no luck at all.
Đại ý là cưới vào nửa đầu tuần và đặc biệt là vào ngày thứ Tư là đẹp nhất, tuy nhiên, người Anh hiện đại vì quá bận rộn trong tuần nên cứ thứ bảy là tổ chức đám cưới – đó là lý do vì sao tỉ lệ ly hôn tăng vọt.
Trang phục đám cưới
Trang phục của cô dâu phương Tây thường là váy cưới màu trắng tượng trưng cho sự thuần khiết (purity) có từ thời Victoria. Trước đó, các cô dâu còn mang mạng che mặt (veil) để xua đuổi tà ý. Và thường cô dâu sẽ mặc như thế này:
Thường cô dâu sẽ mang một món trang sức hồi môn (an heirloom) hoặc một cuốn kinh thánh của gia đình, váy cưới chắc chắn là váy mới, kèm theo một món đồ mượn của ai đó, đeo một dải băng xanh (blue). Nếu cô dâu lúng túng không biết chọn đồ như thế nào để mặc, thì cũng không sao, đã có bài thơ này.
“Married in white, you will have chosen all right. Married in grey, you will go far away. Married in black, you will wish yourself back. Married in red, you’ll wish yourself dead. Married in blue, you will always be true. Married in pearl, you’ll live in a whirl. Married in green, ashamed to be seen, Married in yellow, ashamed of the fellow. Married in brown, you’ll live out of town. Married in pink, your spirits will sink.”
Và nếu cô dâu chọn váy màu trắng cho đám cưới của mình thì giá trung bình cho một bộ váy cưới là £826.
Ngày xưa, thời Trung Cổ, các phù dâu mặc y như cô dâu để làm cho rối trí những ma quỷ muốn làm hại cô dâu. Nhưng ngày nay thì không cô dâu nào muốn mình bị mờ nhạt trong ngày trọng đại này.
Tiệc cưới
Sau lễ cưới, là phần tiệc cưới với một số bài phát biểu và lời chúc tụng dành cho cặp đôi. Bất kỳ một điệu nhảy nào cũng đều do cô dâu và chú rể mở đầu, thường gọi là “Bridal Waltz”, gọi là như vậy nhưng hiếm khi người ta nhảy điệu waltz. Theo truyền thống, sẽ có một màn nhảy giữa cô dâu và cha mình, trong đó thỉnh thoảng chú rể xen vào nhảy cùng cô dâu, tượng trưng cho việc cô dâu từ biệt cha về nhà chồng.
Trong tiệc cưới, sẽ có một chiếc bánh cưới (wedding cake) rất đẹp, thường là bánh trái cây với tầng trên cùng có hình cô dâu chú rể. Để lấy may, cô dâu chú rể cần phải cùng nhau cắt bánh, điều này tượng trưng cho sự chung sức chung lòng của họ trong cuộc sống sau này. Một tầng của chiếc bánh sẽ được giữ lại để ăn vào dịp 1 năm kỉ niệm ngày cưới hoặc ăn vào lễ rửa tội đứa con đầu lòng. Những ai không đi dự đám cưới, sẽ được gửi cho một miếng bánh bỏ trong hộp nhỏ (a memento)
Người ta có một điều mê tín rằng, nếu khách nào đi dự đám cưới mà đang FA- còn độc thân, hãy mang miếng bánh đó về để dưới gối, sẽ tăng cơ hội tìm được người bạn đời nhanh hơn.
Hoàng Huy
Bản quyền thuộc về English4all.vn
Đám cưới Hoàng Gia Anh của Hoàng thái tử William và cô Kate Middleton năm 2011